September 20, 2016 by Huu-Hien Huynh

(Indicators in Scientometrics) – Phần 7: Đề xuất chỉ số mới trong đánh giá năng lực nghiên cứu: Chỉ số I

click here CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC – Phần 7: Đề xuất chỉ số mới trong đánh giá năng lực nghiên cứu: Chỉ số I


follow Lời dẫn của S4VN:

Trong bài viết này, chúng tôi lược dịch một phần nội dung bài báo (*) của tác giả Shaon Sahoo, người đã xây dựng và đề xuất sử dụng chỉ số I để đo lường phần đóng góp của cá nhân nhà nghiên cứu trong thành tựu nghiên cứu chung của tập thể. Từ đó sẽ giúp đánh giá chuẩn xác hơn năng lực của cá nhân một nhà nghiên cứu.

Dưới đây là phần nội dung lược dịch.

1

Một nhà nghiên cứu hợp tác với nhiều nhóm đồng nghiệp khác nhau thường có số lượng bài báo nhiều hơn (và do đó cũng có số lượng trích dẫn và chỉ số h cao hơn) so với một học giả chỉ thực hiện nghiên cứu một mình hay cộng tác trong một nhóm nhỏ các đồng nghiệp. Do đó khi phân tích về thành tựu nghiên cứu của một tác giả, sẽ là không thoả đáng nếu chỉ xem xét tác động của tập thể tác giả bài báo đã xuất bản. Chúng ta cần phải lượng định phần đóng góp của một tác giả vào tác động chung đó của bài báo.

Để tính toán phần đóng góp cá nhân của một tác giả vào bài báo, nhà nghiên cứu Shaon Sahoo đã đề xuất sử dụng chỉ số I (I-index) để tính tỉ lệ phần trăm công lao của một tác giả trong tổng số trích dẫn của một bài báo mà người đó là một tác giả thành viên. Shaon Sahoo lập luận rằng chỉ số I không phụ thuộc trực tiếp vào đa số các nhân tố chủ quan như tầm ảnh hưởng của tác giả, đơn vị công tác, thâm niên, khoảng thời gian gián đoạn trong nghề nghiệp chuyên môn. Nhà nghiên cứu nói trên cũng chứng minh rằng 3 chỉ số độc lập là tổng số lượng trích dẫn, chỉ số h (xem các bài trước), và chỉ số I, nếu kết hợp với nhau sẽ thể hiện được năng lực nghiên cứu tổng thể của một tác giả.

Shaon Sahoo đã xây dựng chỉ số I dựa trên hai giả định sau đây:

– Tác động của bài báo chỉ được xác định bởi số lượng trích dẫn mà bài báo nhận được. Số lượng trích dẫn này được tính là công trạng của các đồng tác giả và được chia phần cho họ.

– Đối với một bài báo có nhiều tác giả, nhất thiết mỗi đồng tác giả đều có đóng góp và góp phần công sức bằng nhau nếu như không được đề cập khác đi trong bài báo.

Định nghĩa chỉ số I

Chỉ số I là tỉ lệ phần trăm đóng góp của một đồng tác giả vào tổng số trích dẫn mà bài báo nhận được. Nếu cᵢ là số lượng trích dẫn mà bài báo thứ i nhận được và zᵢ là phần đóng góp được kỳ vọng của tác giả thì chỉ số I của tác giả đó được tính bởi công thức sau:

i1

Trong đó, Nᵨ là tổng số bài báo của tác giả nêu trên. Nếu nᵢ là số lượng các tác giả đóng góp vào bài báo thứ i thì, giả định rằng phần đóng góp của các đồng tác giả là bằng nhau, chúng ta sẽ có zᵢ = cᵢ/nᵢ. Theo đó, chỉ số I của tác giả sẽ là:

i2

Trong đó Nc là tổng số lượng trích dẫn:  i3

Vì sao chọn tổng số lượng trích dẫn Nc, chỉ số h, và chỉ số I để lượng hoá 3 phương diện khác biệt nhau trong năng lực nghiên cứu của tác giả? Vì đây là 3 số đo lượng hoá 3 khía cạnh quan trọng nhất trong năng lực nghiên cứu của một học giả là số lượng bài báo, chất lượng nghiên cứu, và phần đóng góp của riêng tác giả vào thành tựu nghiên cứu chung. Chỉ số h đo lường được tầm ảnh hưởng tập thể (collective impact) và năng suất nghiên cứu. Tuy nhiên chỉ số h thường đánh giá dưới mức tổng tác động của năng lực nghiên cứu của một tác giả. Ví dụ hai tác giả có cùng chỉ số h nhưng có thể có tác động tập thể rất khác nhau nếu một trong hai tác giả đó có một số bài báo nằm trong chỉ số h được trích dẫn rất cao. Do đó cần phải chọn một chỉ số có thể thể hiện được tác động tập thể của năng lực nghiên cứu của một tác giả và đó là chỉ số về tổng số lượng trích dẫn Nc. Còn chỉ số I mô tả khía cạnh thứ ba trong năng lực nghiên cứu của một học giả: phần đóng góp của tác giả đó vào các công trình nghiên cứu mà họ tham gia xuất bản.

Ưu điểm của việc xem xét riêng lẻ chỉ số I bên cạnh chỉ số Nc và chỉ số h là ở chỗ nó không khuyến khích hành vi vi phạm đạo đức nghiên cứu khi cho/nhận quyền tác giả đến/từ những người không có đóng góp vào công trình nghiên cứu. Tuy nhiên chỉ số này không cản trở sự hợp tác chân chính của các nhà khoa học bởi vì, nếu không thì, chỉ số Nc và chỉ số h của họ sẽ không được cải thiện.

follow site Nhóm dự án S4VN (Trắc lượng Khoa học Việt Nam)

–  – –  –  –  –  –  –  –  –

(*) Sahoo, S. (2015). Analyzing research performance: proposition of a new complementary index. Scientometrics, 1-16.

Related Post

(Indicators in Scientometrics) – Phần 6: Đánh giá ... CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC - Phần 6: Đánh giá chất lượng nghiên cứu trong các trường đại học: Sử dụng bình duyệt hay thang đo trắc ...
(Indicators in Scientometrics) – Phần 5: Trí... CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC - Phần 5: Trích dẫn ISI Web of Science và trích dẫn Google Scholar Lời dẫn của S4VN: Trong bài v...
(Indicators in Scientometrics) – Phần 4: Một... CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC - Phần 4: Một số thông tin thêm về các chỉ số liên quan đến trích dẫn Trong tuần này, loạt bài ...
(Indicators in Scientometrics) – Phần 3: Chỉ... CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC - Phần 3: Chỉ số tác động và các chỉ số trích dẫn khác đối với tạp chí Trong tuần này, để tiếp tụ...
(Indicators in Scientometrics) – Phần 2: Vai... CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC - Phần 2: Vai trò của các tác giả đứng tên trong một bài báo khoa học Tiếp theo bài viết về Chỉ s...