(Indicators in Scientometrics) – Phần 1: Chỉ số H

CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC – Phần 1: Chỉ số H


Bắt đầu từ tuần này, xen kẽ với các công bố về kết quả nghiên cứu trên ISI, S4VN sẽ giới thiệu đến bạn đọc các chỉ số đo lường trong trắc lượng khoa học và các vấn đề liên quan đang được thế giới áp dụng.

CHỈ SỐ H

Có nhiều chỉ số khác nhau được sử dụng để đo lường năng lực nghiên cứu của một nhà khoa học như số lượng công trình/bài báo xuất bản, chỉ số h, tổng số lượt trích dẫn, số lượt trích dẫn bình quân (trên 1 bài báo), chỉ số tác động của tạp chí … Trong số đó, 2 loại chỉ số thường được viện dẫn trong đánh giá khoa học là chỉ số về số lượng công bố và chỉ số về trích dẫn. Đây cũng là 2 chỉ loại chỉ số quan trọng được hệ thống ISI và Scopus sử dụng trong các phân tích và đánh giá của mình (ví dụ như danh sách các nhà khoa học được trích dẫn cao nhất của Thomson Reuters).

Năm 2005, trong một bài viết có ảnh hưởng lớn, nhà khoa hoc J. E. Hirsch đã đề xuất sử dụng chỉ số h để đánh giá năng lực khoa học của một nhà nghiên cứu. Ông định nghĩa chỉ số h là số lượng các bài báo có số lượt trích dẫn cao hơn hoặc bằng h. Chẳng hạn như một nhà khoa học có chỉ số h là 110 nghĩa là người đó có ít nhất 110 bài báo mà mỗi bài báo có tối thiểu 110 lượt trích dẫn.

Theo ông, chỉ số h là chỉ số dễ tính toán, có thể đo lường được tầm quan trọng, ý nghĩa đóng góp và phạm vi ảnh hưởng của tổng số các công trình nghiên cứu của một nhà khoa học. Đặc biệt nếu áp dụng tiêu chí về thành tựu NCKH thì chỉ số này có thể giúp so sánh một cách khách quan các nhà nghiên cứu đang cạnh tranh cùng một nguồn lực.

Hirsch (2005) lập luận rằng chỉ số h được ưa chuộng sử dụng trong đánh giá năng lực khoa học hơn bất kỳ chỉ số đơn lẻ nào khác vì những lý do dưới đây (so sánh với điểm mạnh và điểm yếu của từng chỉ số đơn lẻ):

(1) Tổng số bài báo
– Điểm mạnh: tính được năng suất NCKH.
– Điểm yếu: không đo lường được tầm quan trọng của các bài báo.

(2) Tổng số lượt trích dẫn
– Điểm mạnh: đo được tổng mức ảnh hưởng.
– Điểm yếu: khó tính toán được; có thể bị thổi phồng nhờ một số bài báo được trích dẫn nhiều nhờ đứng tên đồng tác giả với một số người khác; đóng góp trọng số không hợp lý do các bài báo tổng quan (review article) thường được trích dẫn nhiều hơn so với bài báo đóng góp kiến thức mới (original research paper).

(3) Số lượt trích dẫn trung bình (trên mỗi bài báo)
– Điểm mạnh: cho phép so sánh các nhà khoa học ở các độ tuổi khác nhau.
– Điểm yếu: khó tính toán được; có lợi hơn cho những nhà nghiên cứu có năng suất thấp (số lượng công bố ít).

(4) Số lượng bài báo có ảnh hưởng cao (số lượng bài báo có từ y lượt trích dẫn trở lên)
– Điểm mạnh: khắc phục được những nhược điểm trong các tiêu chí (1), (2), và (3), thể hiện được tầm ảnh hưởng lớn và có tính lâu dài.
– Điểm yếu: con số y là võ đoán, có thể có lợi cho người này nhưng bất lợi cho người khác và cần được chuẩn hoá cho các nhà nghiên cứu có thâm niên khác nhau.

(5) Số lượt trích dẫn tính trên mỗi bài báo trong số q bài báo được trích dẫn nhiều nhất (ví dụ q=5)
– Điểm mạnh: khắc phục được những nhược điểm trong các tiêu chí ở trên.
– Điểm yếu: đây không phải là con số đơn nhất nên khó tính toán và khó so sánh. Hơn nữa, con số q là võ đoán, có thể có lợi cho người này nhưng bất lợi cho người khác.

Hirsch (2005) cũng khuyến nghị rằng trong trường hợp một người có chỉ số h cao nhờ đứng tên đồng tác giả với nhiều người khác thì nên chuẩn hoá chỉ số h bằng 1 hệ số thể hiện con số trung bình các đồng tác giả. Một nghiên cứu cho thấy việc hợp tác trong nước và hợp tác quốc tế có ảnh hưởng khác nhau lên số lượt trích dẫn. Nếu như việc hợp tác với các tác giả trong nước trung bình làm tăng mức trích dẫn lên 0,75 lượt trích dẫn thì con số tăng tương ứng là 1,6 lượt trích dẫn đối với các công trình có hợp tác quốc tế (Gu, 2004). Để khắc phục sự thiên lệch do yếu tố tuổi tác thì không nên tính những bài báo có đóng góp ít của giai đoạn khởi đầu nghề nghiệp nghiên cứu. Và khi tính số lượt trích dẫn nên loại bỏ số lượt tự trích dẫn (Hirsch, 2005).

Chỉ số h còn có ý nghĩa giúp các sinh viên chương trình thạc sỹ hoặc tiến sỹ chọn đơn vị đào tạo phù hợp. Một sinh viên muốn theo học một chương trình sau đại học nên cân nhắc lựa chọn dựa vào chỉ số h tổng thể của bộ môn hoặc khoa chuyên ngành mà mình dự định theo học. Chỉ số h tổng thể của 1 đơn vị thường lớn hơn chỉ số H của từng thành viên trong đơn vị đó nhưng nhỏ hơn tổng các chỉ số h của các thành viên (Hirsch, 2005).

Indicators_Part01

MỘT SỐ Ý KIẾN PHÊ PHÁN CHỈ SỐ H

Những quốc gia có số lượng công bố khoa học nhiều thường có chỉ số h cao, vì vậy chỉ số h không phải là chỉ số lý tưởng và độc lập để đo lường chất lượng NCKH của một quốc gia (Nguyen & Pham, 2011).

Mặc dù chỉ số về lượt trích dẫn có vai trò quan trọng nhưng vẫn có các nhược điểm sau: các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau có quy mô khác nhau; việc tính trọng số ngang bằng nhau cho các lượt trích dẫn là không hợp lý; một số công trình nghiên cứu có ảnh hưởng lớn đã trở thành kiến thức phổ quát và không được trích dẫn nữa; ngôn ngữ sử dụng trong các bài báo khoa học tạo ra sự thiên lệch; các tạp chí ở cấp địa phương có thể bị bỏ sót; sự chú ý quá mức đến việc trích dẫn trong nội bộ nhóm (Ko, 1998).

Các nghiên cứu và công bố trong những lĩnh vực học thuật “mềm” như khoa học kinh doanh, giáo dục, KHXH và nhân văn thường liên quan đến các vấn đề có tính địa phương và có thể không được giới học thuật thế giới chú ý đến. Do đó, việc sử dụng chỉ số trích dẫn trong các lĩnh vực này để đánh giá năng lực NCKH là không phù hợp (trong bổ nhiệm chức danh, tuyển dụng biên chế, và trong đề bạt) (Ko, 1998).

Nói tóm lại, chỉ số h vẫn có nhiều ưu điểm hơn các chỉ số đơn lẻ khác trong đánh giá năng lực NCKH. Việc sử dụng chỉ số h trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, công nghệ, y khoa dường như hiệu quả hơn so với các lĩnh vực kinh doanh, giáo dục, KHXH và nhân văn. Một chỉ số h được chuẩn hoá sẽ làm giảm đi những thiên lệch có thể có. Cách tốt nhất vẫn là phương án kết hợp đa chỉ số (multiple indicator) trong đánh giá khoa học.

Riêng trong các lĩnh vực KHXH, nhân văn, giáo dục, kinh doanh, việc sử dụng chỉ số h trong hệ thống ISI cần thận trọng hơn và cần thiết nên mở rộng việc xem xét đánh giá năng lực NCKH thông qua các hệ thống khác như Scopus, … và kể cả các tạp chí khoa học có tính địa phương mặc dù điều này đòi hỏi tốn nhiều công sức hơn và cần có những chuyên gia đủ năng lực và uy tín ở nhiều chuyên ngành khác nhau.

_____________________
Tài liệu Tham khảo:
Gu, Y. (2004). Global knowledge management research: A bibliometric analysis. Scientometrics, 61(2), 171-190.
Hirsch, J. E. (2005). An index to quantify an individual’s scientific research output. Proceedings of the National Academy of Sciences USA, 102, 16569–16572.
Ho, K. K. (1998). Research output among the three faculties of business, education, humanities & social sciences in six Hong Kong universities. Higher Education, 36, 195-208.
Nguyen, T. V. & Pham, L. T. (2011). Scientific output and its relationship to knowledge economy: An analysis of ASEAN countries. Scientometrics, 89, 107-117.

Note: Picture from: http://www.slideshare.net/Deakinlibraryresearch/h-index-37519740

Nhóm dự án S4VN (Trắc lượng Khoa học Việt Nam)

Disclaimer: Chúng tôi lưu ý thông tin của từng quốc gia trong các bảng ở hình này chỉ phản ánh kết quả công bố ISI của các quốc gia đó theo tên chỉ số tương ứng; ngoài ra, không đại diện cho bất kỳ chỉ số/thông tin nào khác. Đồng thời, chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất kỳ sự suy diễn ý nghĩa nào khác ngoài các chỉ số đã nêu trong hình này.

Bạn đọc có thể thảo luận về bài viết này trên fanpage Scientometrics for Vietnam tại đây.

Related Post

(Indicators in Scientometrics) – Phần 5: Trí... CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC - Phần 5: Trích dẫn ISI Web of Science và trích dẫn Google Scholar Lời dẫn của S4VN: Trong bài v...
(Indicators in Scientometrics) – Phần 4: Một... CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC - Phần 4: Một số thông tin thêm về các chỉ số liên quan đến trích dẫn Trong tuần này, loạt bài ...
(Indicators in Scientometrics) – Phần 3: Chỉ... CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC - Phần 3: Chỉ số tác động và các chỉ số trích dẫn khác đối với tạp chí Trong tuần này, để tiếp tụ...
(Indicators in Scientometrics) – Phần 2: Vai... CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC - Phần 2: Vai trò của các tác giả đứng tên trong một bài báo khoa học Tiếp theo bài viết về Chỉ s...
(Indicators in Scientometrics) – Phần 6: Đánh giá ... CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC - Phần 6: Đánh giá chất lượng nghiên cứu trong các trường đại học: Sử dụng bình duyệt hay thang đo trắc ...

#h-index#Indicators in Scientometrics