March 13, 2016 by Huu-Hien Huynh

(Indicators in Scientometrics) – Phần 4: Một số thông tin thêm về các chỉ số liên quan đến trích dẫn

buy nizoral shampoo boots best place to buy Dilantin CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC – Phần 4: Một số thông tin thêm về các chỉ số liên quan đến trích dẫn


Trong tuần này, loạt bài viết “Các chỉ số đo lường trong trắc lượng khoa học” xin tiếp tục với một số thông tin cụ thể về chỉ số trích dẫn được tổng hợp từ các bài báo khoa học có liên quan trên tạp chí Scientometrics và các tạp chí khác.

Nhóm dự án Trắc lượng khoa học Việt Nam xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc bài viết dưới đây.

Indicators_Part04

MỘT SỐ THÔNG TIN THÊM VỀ CÁC CHỈ SỐ LIÊN QUAN ĐẾN TRÍCH DẪN

Việc sử dụng phân tích trích dẫn rõ ràng là một phương pháp đang ngày càng được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, phương pháp này cũng có không ít những vấn đề cần chú ý. Những người ủng hộ cho rằng họ đã nhận ra những hạn chế của phương pháp phân tích trích dẫn và đã khắc phục những hạn chế đó. Còn phái chỉ trích thì cho rằng những người ủng hộ việc sử dụng phương pháp này đã xem nhẹ những hạn chế của nó, thậm chí còn không nhận ra những hạn chế đó. (1)

Theo lý thuyết chuẩn tắc, thư mục là danh sách những công trình có ảnh hưởng và tác giả trích dẫn là để ghi nhận công lao của các tác giả của công trình nghiên cứu khi mà họ sử dụng thông tin từ công trình của các tác giả này. Các nhà khoa học cần phải thực hiện việc trích dẫn vì chuẩn tắc khoa học buộc họ phải ghi trích dẫn những công trình mà họ thấy có ích cho việc thực hiện nghiên cứu của mình (xem tổng hợp trong (1).

Giả định đặt ra là những tham khảo mà một tác giả trích dẫn là chỉ báo khá tin cậy nêu lên tầm ảnh hưởng của công trình đó (1).

CÁC BÀI BÁO QUAN TRỌNG CÓ SỐ LƯỢT TRÍCH DẪN CAO HƠN?

Năm 2000, tác giả Abt thực hiện một nghiên cứu để tìm hiểu xem liệu các bài báo trong lĩnh vực thiên văn học được các chuyên gia trong ngành đánh giá là có tầm quan trọng nền tảng và hữu ích trong thế kỷ 20 thì có số lượt trích dẫn cao không? Tác giả đã nhờ 53 nhà nghiên cứu thiên văn học hàng đầu chọn ra những bài báo mà họ cho là quan trọng nhất trong lĩnh vực này. Có 53 bài báo được chọn bao gồm 52 bài được xuất bản trong giai đoạn 1905-1980 và 1 bài được xuất bản năm 1990. Để chọn nhóm đối chứng, cứ mỗi bài báo quan trọng mà các chuyên gia đã chọn thì tác giả chọn 2 bài báo được xuất bản liền kề ngay trước và sau bài báo đã chọn. Như vậy, đã có 53 bài báo quan trọng được chọn để nghiên cứu và 106 bài báo trong nhóm đối chứng. (2)

Kết quả nghiên cứu cho thấy 92% số bài báo quan trọng có số lượt trích dẫn cao hơn số lượt trích dẫn trung bình của các bài báo trong nhóm đối chứng. Hơn nữa, chỉ số trích dẫn nửa vòng đời (half-life) của 52 bài báo quan trọng (ngoại trừ bài báo xuất bản năm 1990) là 31,6 năm, cao gấp 2,5 lần chỉ số tương ứng của 104 bài báo nhóm đối chứng là 12,6 năm. Tác giả nghiên cứu đi đến nhận định rằng: (a) các bài báo quan trọng hầu như luôn luôn có số lượt trích dẫn cao hơn các bài báo khác; và (b) số lượt trích dẫn là một thước đo hiệu quả để đánh giá tầm quan trọng hay độ hữu dụng của một bài báo khoa học. (2)

SỐ LƯỢT TRÍCH DẪN KHÁC NHAU TUỲ THUỘC LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU

Việc so sánh tầm ảnh hưởng của các nhà nghiên cứu từ các lĩnh vực khác nhau là một việc hết sức khó khăn (3). Chẳng hạn như việc sử dụng chỉ số trích dẫn trong các lĩnh vực KHXH và NV có nhiều hạn chế hơn so với chỉ số trích dẫn trong các ngành khoa học (SCI). Do nhiều tạp chí KHXH và NV xuất bản ở châu Âu, dù bằng tiếng Anh, vẫn không nằm trong danh mục ISI (SSCI và A&HCI) nên các nhà nghiên cứu trong KHXH & NV thường có ít số bài báo ISI hơn so với các đồng nghiệp bên các ngành khoa học dù là năng suất công bố nói chung của họ là ngang nhau. Do đó, nếu tính chỉ số trích dẫn theo ISI đối với họ sẽ bỏ sót một số lượng trích dẫn từ các bài báo ngoài ISI của họ. (4).

Tuy nhiên, có một nhóm nghiên cứu từ Đại học Sao Paulo (Brazil) đã nỗ lực tìm câu trả lời cho vấn đề này. Họ cho rằng chỉ số h mặc dù hữu ích trong việc đánh giá năng lực NCKH của cá nhân nhà nghiên cứu nhưng có những hạn chế vì còn tuỳ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu. Dựa vào cơ sở dữ liệu ISI của Thomson, họ xem xét số lượng bài báo được xuất bản trong giai đoạn 1970-2004 của các nhà nghiên cứu Brazil ở 4 lĩnh vực: Vật lý, Hoá học, Sinh học/Y sinh, và Toán học. (3)

Kết quả của họ cho thấy:

Trong lĩnh vực Vật lý, 9 nhà nghiên cứu hàng đầu có chỉ số h từ 34-37, và có tổng số lượt trích dẫn từ 3677-5946 (người có chỉ số h cao nhất có số lượt trích dẫn là 4938).

10 học giả hàng đầu ngành Hoá học có chỉ số h từ 21-29, và có tổng số lượt trích dẫn từ 1339-2869 (người có chỉ số h cao nhất có số lượt trích dẫn là 2770).

Trong lĩnh vực Sinh học/Y sinh, các con số tương ứng của 10 nhà nghiên cứu hàng đầu là: chỉ số h: 14-24; và số lượt trích dẫn: 385-2657 (2134).

Trong lĩnh vực Toán học, các con số tương ứng của 10 nhà nghiên cứu hàng đầu là: chỉ số h: 9-14; và số lượt trích dẫn: 193-516 (509).

Do đó để tránh ảnh hưởng của việc có nhiều tác giả đồng đứng tên, họ đã đề xuất chỉ số h1 được tính bằng cách lấy chỉ số h chia cho con số trung bình các tác giả trong h bài báo:
h1 = h/[Na]
trong đó [Na] là trung bình số tác giả trong h bài báo (được tính bằng cách lấy tổng số tác giả trong h bài báo chia cho h).

Theo các tác giả trên, chỉ số h1 này sẽ cung cấp thêm thông tin về năng suất nghiên cứu (3).

Ngoài ra, còn có một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến số lượng trích dẫn.

Các bài báo dạng tổng quan cũng thường có nhiều trích dẫn hơn so với các bài báo khác (5). Và nếu bài báo có nhiều đồng tác giả thì khả năng nhận được số lượng trích dẫn cũng cao hơn. (3).

Địa chỉ xuất phát của bài báo cũng có những ảnh hưởng nhất định. Các bài báo xuất phát từ các quốc gia “ngoại vi” thường nhận được ít trích dẫn hơn so với các quốc gia “trung tâm” bởi vì các nhà nghiên cứu có xu hướng tin cậy cao hơn ở các nguồn trích dẫn từ các khu vực “trung tâm” này (6).

—————-
Nguồn tham khảo:
1. MacRoberts, M. H. & MacRoberts, B. R (1989). Problems of citation analysis: A critical review. Journal of the American Society for Information Science, 40(5), 342-349.
2. Abt, H. A (2000). Do important papers produce high citation counts? Scientometrics, 48(1), 65-70.
3 Batista, P. D., Campiteli, M. G., Kinouchi, O., & Martinez, A. S. (2006). Is it possible to compare researchers with different scientific interests? Scientometrics, 68(1), 179-189.
4. Nederhof, A. J. (2006). Bibliometric monitoring of research performance in the Social Sciences and the Humanities: A review. Scientometrics, 66(1), 81-100.
5. Van Raan, A. F. J. (2006). Comparison of the Hirsch-index with standard bibliometric indicators and with peer judgement for 147 chemistry research groups. Scientometrics, 67(3), 491-502.
6. Bordons, M., Fernandez, M. T., & Gomez, I. (2002). Advantages and limitations in the use of impact factor measures for the assessment of research performance in a periphery country. Scientometrics, 53(2), 195-206.

http://liberatedeating.com/?cat= Nhóm dự án S4VN (Trắc lượng Khoa học Việt Nam)

Disclaimer: Chúng tôi lưu ý thông tin của từng quốc gia trong các bảng ở hình này chỉ phản ánh kết quả công bố ISI của các quốc gia đó theo tên chỉ số tương ứng; ngoài ra, không đại diện cho bất kỳ chỉ số/thông tin nào khác. Đồng thời, chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất kỳ sự suy diễn ý nghĩa nào khác ngoài các chỉ số đã nêu trong hình này.

Bạn đọc có thể thảo luận về bài viết này trên fanpage http://theplumeapp.com/blog Scientometrics for Vietnam tại đây.

Related Post

(Indicators in Scientometrics) – Phần 5: Trí... CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC - Phần 5: Trích dẫn ISI Web of Science và trích dẫn Google Scholar Lời dẫn của S4VN: Trong bài v...
(Indicators in Scientometrics) – Phần 3: Chỉ... CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC - Phần 3: Chỉ số tác động và các chỉ số trích dẫn khác đối với tạp chí Trong tuần này, để tiếp tụ...
(Indicators in Scientometrics) – Phần 2: Vai... CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC - Phần 2: Vai trò của các tác giả đứng tên trong một bài báo khoa học Tiếp theo bài viết về Chỉ s...
(Indicators in Scientometrics) – Phần 1: Chỉ... CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC - Phần 1: Chỉ số H Bắt đầu từ tuần này, xen kẽ với các công bố về kết quả nghiên cứu trên ISI, ...
(Indicators in Scientometrics) – Phần 6: Đánh giá ... CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG TRONG TRẮC LƯỢNG KHOA HỌC - Phần 6: Đánh giá chất lượng nghiên cứu trong các trường đại học: Sử dụng bình duyệt hay thang đo trắc ...

#Citation Analysis#Indicators in Scientometrics